Giới thiệu giáo trình ” Tuyển Tập Tư Liệu Công Ty Đông Ấn Anh Về Kẻ Chợ Đàng Ngoài (1672-1697) “
II. KHỞI ĐẦU KHÓ KHĂN Ở ĐÀNG NGOÀI (1672 – 1682)
Tình hình kinh doanh
Khi tàu Zant và thương đoàn Anh đến Đàng Ngoài (6/1672), vua Lê và chúa Trịnh đều ở ngoài mặt trận phía nam. (1) Chúa vắng mặt là dịp thuận lợi để các quan giám thương (dispachadores) hành hạ các thương nhân mới đến. Vị quan Ungia Thay ép người Anh đưa tàu ngược sông dù nước không đủ sâu và chảy xiết. Ông ta sai người trói viên thuyền trưởng và thậm chí đe doạ cắt cổ viên phó tàu chỉ vì họ lưỡng lự. Thất vọng về sự nhũng nhiễu của quan lại, Giám đốc Gyfford định rút lui. Đáp lại, viên quan đe doạ: “khi chúng ta còn ở ngoài [lãnh thổ của họ] chúng ta có thể bỏ đi. Chúa là Chúa của Đàng Ngoài trước khi chúng ta đến và sẽ vẫn là Chúa sau khi chúng ta ra đi; vương quốc này không có nhu cầu về các hàng hoá ngoại nhập”. (2)
Người Anh hết sức than phiền về phương thức buôn bán “phiền toái” của xứ Đàng Ngoài. Người Anh cũng như các thương nhân ngoại quốc khác phải kê khai hàng hoá và nhân sự mỗi khi tàu đến, kèm theo danh mục quà biếu cho Chúa và Thế tử. Hàng hoá không kê khai, nếu quan phát hiện, sẽ bị tịch thu. Chúa và Thế tử mua những hàng hoá Anh với giá rẻ, đồng thời đòi ứng trước một khoản tiền mặt (bạc nén) để trả bằng tơ lụa. Quan lại cũng đòi quà biếu và tiền mặt để đổi lấy lụa với giá hời. Nếu người Anh không đáp ứng, họ sẽ gây nhiều thiệt hại cho Công ty như ngăn cản buôn bán, lấy hàng hoá dưới danh nghĩa Chúa để trả giá rất thấp.
Cư dân địa phương bị người Anh nhận xét là dè dặt về chính trị và nghèo nàn về kinh tế. Tư tưởng trọng nông ức thương và sự hà khắc của quan lại làm cho họ “sợ sệt làm giàu vì quan lại […] sẽ tìm cách tước đoạt bằng cách này hay cách khác […] và chính vì thế họ thà bằng lòng với chút ít của cải để được sống yên ổn trong căn nhà của mình còn hơn là trở nên giàu có để bị quan lại nhòm ngó ức hiếp”. Thương nhân ở xứ sở này nghèo đến nỗi “không có những thương nhân (như những nơi khác) có thể mua số lượng hàng hoá lớn vì e sợ những bất trắc có thể xảy ra”. Việc thu mua các sản phẩm của Đàng Ngoài và tiêu thụ sản phẩm Anh thường phải dựa vào sự môi giới của các thông ngôn (jurebass) và Hoa thương định cư ở Đàng Ngoài. (1)
Điều khiến người Anh lo lắng nhất là tình trạng lỏng lẻo của luật pháp: “không có bất kỳ một thứ pháp luật cụ thể nào ngoài sự phân xửtuỳ tiện của Chúa. Toàn bộ luật lệ của các đời Chúa trước đều vô hiệu lực. Vì thế, quan lại có thể làm những điều họ muốn nếu họ biết rằng những việc đó không làm cho Chúa phật lòng”. (2) Khi gặp chuyện phiền phức, người Anh chỉ biết trông cậy vào các vị quan giám thương mà Chúa cử làm đại diện – những người có lòng nhiệt tình lên xuống tuỳ theo sự hậu hĩnh của những món quà họ nhận được.
Những người thông ngôn cũng thường là thương nhân hoặc người mối lái nên lòng trung thành của họ với Công ty bị chi phối bởi cả quyền lợi riêng và sức ép từ quan lại. “Nhân viên thông ngôn không phải chỉ làm việc như một thông ngôn đơn thuần” – viên giám đốc thương điếm phân trần trong thư gửi về Bantam – “mà còn tự đàm phán công việc với các quan và nhận tiền quan lại thanh toán cho Công ty, nghĩa là quan lại sẽ thanh toán tiền thông qua viên thông ngôn, mặc dù chúng ta chẳng yêu cầu, và các khoản trả đó bao giờ cũng rất rẻ mạt”. (3) Vì thế, viên giám đốc luôn thúc giục Công ty tìm ở Bantam một người có thể nói được tiếng Việt để cử sang Đàng Ngoài. (4)
Tương tự như ở các nước phương Đông khác, người Anh chỉ được phép bán hàng hoá mang đến sau khi Chúa, Thế tử và quan lại đã mua trước những thứ họ thích. Để thu mua được sản phẩm địa phương mà Công ty yêu cầu, thương điếm phải đặt tiền trước cho những người môi giới hoặc người sản xuất để họ cung cấp hàng hoá trước khi tàu đến vào mùa hè. Lối buôn bán này là nguyên nhân khiến thương điếm Đàng Ngoài liên tục yêu cầu Công ty cung cấp tiền mặt và “vốn luân chuyển” bởi vì “sự sống còn của nền mậu dịch ở Đàng Ngoài là tiền mặt [tức bạc nén]”. (1)
Phương pháp này hầu như không thay đổi trong suốt 25 năm buôn bán của Công ty ở đây. Trong những năm đầu khi nhân viên còn thận trọng, tiền đặt hàng chỉ giao cho những người tin cậy như thông ngôn của Công ty và những người trung gian mà người Hà Lan cũng có quan hệ buôn bán. Tuy vậy, sự cẩn trọng này không phải lúc nào cũng tuyệt đối an toàn. Năm 1682, người Anh đã bị mất trắng 4.000 lạng bạc khi đặt mua lĩnh (người Hà Lan mất 5.000 lạng) do người môi giới phá sản nên trốn nợ. Nguyên nhân của sự việc là do mùa dâu năm đó thất bát. (2)
Nỗ lực xin chuyển thương điếm từ Phố Hiến lên Kẻ Chợ của người Anh gặp nhiều trở ngại. Theo than phiền của người Anh, Phố Hiến rất nghèo nàn và vắng vẻ: “nó quá xa trung tâm thương mại [tức Kẻ Chợ], chúng tôi chẳng thể làm được gì, chẳng có thương nhân nào đến buôn bán ở chỗ chúng tôi cả”. (3) Từ đó, người Anh nỗ lực vận động để chuyển lên Kẻ Chợ nhưng Chúa không cho phép người ngoại quốc sống ở kinh đô trừ người Hoa và người Hà Lan – những người Âu đã đến Đàng Ngoài từ năm 1637.
Trong giai đoạn 1672 – 1682, những lời thỉnh cầu của người Anh lên Chúa đều bị từ chối bởi – theo báo cáo của Giám đốc Gyfford về Bantam – Chúa muốn Công ty nộp thêm nhiều tiền và các khoản quà biếu hậu hĩnh. Trong nhiều thời điểm nhất định, bản thân người Anh ở Đàng Ngoài cũng chủ động trì hoãn việc chuyển thương điếm lên Kẻ Chợ vì viễn cảnh không mấy tươi sáng của nền thương mại với Đàng Ngoài trong những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XVII. Năm 1683, người Anh được phép chuyển lên kinh đô và lập thương điếm sát trụ sở của người Hà Lan.