Thực Hành Nghiên Cứu Định Lượng – Tài Liệu Học Tập Ebooks PDF Lưu VIP

Thực Hành Nghiên Cứu Định Lượng – Tài Liệu Học Tập Ebooks PDF

Danh mục: , , Người đăng: Lâm Gia Mộc Nhà xuất bản: Tác giả: Ngôn ngữ: Tiếng Việt Định dạng: Lượt xem: 83 lượt Lượt tải: 0 lượt

Nội dung

Giới thiệu giáo trình ” Thực Hành Nghiên Cứu Định Lượng “

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC

2.1. Tri thức, quản trị tri thức và chia sẻ tri thức

2.1.1. Tri thức

2.1.1.1. Khái niệm tri thức

Nghiên cứu của Grant (1996) chỉ ra rằng tri thức là một trong những yếu tố làm nên thành công của tổ chức và quản trị tri thức trở thành một chiến lược cạnh tranh hiệu quả và quan trọng nhất. Còn theo Stiglitz (từng là nhà kinh tế đứng đầu của World Bank) tri thức đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội. Khả năng sử dụng tri thức của một tổ chức có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào con người của tổ chức đó (Ipe, 2003). Do đó, tri thức của các cá nhân được coi là một tài sản cần được quản lý hiệu quả để đạt được kết quả hoạt động tốt hơn (Refaiy và Labib, 2009; Bartol và Srivastava, 2002; Andrews và Delahaye, 2000) và cuối cùng là đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững (Cabrera, 2005; Nonaka và Takeuchi, 1995). Tuy nhiên, rất nhiều tổ chức vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức để phát triển tổ chức.

Câu hỏi về bản chất của tri thức là một thách thức lớn đối với các nhà khoa học. Mặc dù các nhà triết gia đã thảo luận vấn đề này trong nhiều năm, nhưng đến nay việc tìm kiếm một định nghĩa chính thức vẫn còn đang tiếp tục. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau thì tri thức được định nghĩa một cách khác nhau.

Ví dụ, Nonaka và Takeuchi (1995) định nghĩa rằng “tri thức là một quá trình năng động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân đối với sự thật”. Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấu trúc thứ bậc của việc tạo ra tri thức. Tri thức là một tập hợp các mô hình kết nối có cấu trúc (Meyer và Sugiyama, 2007). Davenport và Prusak (1998) định nghĩa tri thức là một cách tiếp cận hoàn chỉnh tạo ra các thông lệ và thông tin mới. Tri thức có thể được xem như một trạng thái, đối tượng, quá trình, điều kiện hoặc khả năng (Alavi và Leidner, 2001).

Tri thức cũng được định nghĩa là (i) sự kiện, thông tin và kỹ năng được mua lại bởi một người thông qua kinh nghiệm hoặc giáo dục, sự hiểu biết lý thuyết hoặc thực hành một vấn đề, (ii) những gì được biết đến trong một lĩnh vực cụ thể hoặc toàn bộ; sự kiện và thông tin; hoặc (iii) nâng cao nhận thức hay hiểu biết đã đạt được bằng kinh nghiệm của một sự kiện hoặc tình huống (Tiwana, 2002). Tri thức có thể được định nghĩa là “thông tin kết hợp với kinh nghiệm, bối cảnh, diễn giải và phản ánh” (Mohanty, 2003).

Drucker (1993) cho rằng tri thức được con người tạo ra và đối thủ cạnh tranh không thể hiểu cách thức một doanh nghiệp tạo ra tri thức nếu không hiểu vai trò và chức năng của yếu tố chủ quan con người trong quá trình đó. Ông từng nhận định rằng “Tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XX là hàng hóa và thiết bị, còn tài sản giá trị nhất của một công ty trong thế kỷ XXI sẽ là tri thức và năng suất lao động. Do đó, các công ty sẽ cạnh tranh với nhau trong một nền kinh tế tri thức”. Khối tài sản tri thức mà Drucker nhắc đến chính là tài sản vô hình (Intangible Asset).

Vì thế, để thành công, tổ chức cần phải quản trị dựa vào tri thức. Nhằm giúp các nhà quản lý hiểu cách thức phát triển vốn trí tuệ và chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp, các nhà khoa học của Nhật Bản (đứng đầu là Ikujiro Nonaka) đã đề xuất mô hình “Quản trị dựa vào tri thức” trong những năm 1990, hay còn gọi là mô hình “Quản trị dựa trên tri thức theo phong cách Hitotsubashi”.

Do đó, để hiểu rõ bản chất quản trị dựa vào tri thức, cần tìm hiểu cả ở khía cạnh lý thuyết và thực tiễn tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Nhật Bản đã thành công. Theo đó, Nonaka cho rằng “Tri thức được tạo ra trong vòng quay liên tục thông qua đối thoại và thực hành. Đối thoại cho phép mọi người hiểu rằng có những quan điểm khác với quan điểm của mình, giúp mọi người chấp nhận và tổng hợp những quan điểm đó, còn thực hành cho phép chia sẻ tri thức ẩn thông qua chia sẻ trải nghiệm hay diễn tả tri thức này bằng một hành động hoặc bối cảnh cụ thể.

Để đảm bảo công ty sáng tạo tri thức thông qua tương tác đạt hiệu quả, người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng. Họ có thể là người đưa ra tầm nhìn tri thức hoặc mục tiêu định hướng, phát triển và cổ vũ chia sẻ tri thức, khuyến khích tương tác thông qua đối thoại và thực hành, hay hỗ trợ, kết nối các Ba (bối cảnh), hay đưa ra các phần thưởng cho những tri thức mới hữu ích cho tổ chức”.

De Long và Fahey (2000) cho rằng tri thức như một sản phẩm phản ánh suy nghĩ và kinh nghiệm của con người. Alavi và Leidner (2001) đề cập đến tri thức như là dòng chảy của các kích thích mới bắt nguồn từ quá trình nhận thức của con người. Van der Spek và Spijkervet (1997) xem xét tri thức như là một tập hợp toàn bộ những hiểu biết, kinh nghiệm và thủ tục được coi là chính xác và đúng đắn và do đó định hướng các suy nghĩ, hành vi và sự giao tiếp của con người, đồng thời tri thức đó luôn có thể áp dụng trong nhiều tình huống và trong một thời gian tương đối dài.

Davenport và Prusak (1998) cho rằng, thông tin được biến đổi thành tri thức của con người thông qua (a) cách so sánh thông tin giữa một tình huống với các tình huống khác đã biết, (b) các quyết định và hành động nào dẫn đến thông tin, (c) thông tin này liên quan đến thông tin khác như thế nào và (d) những gì người khác nghĩ về thông tin này.

Tải tài liệu

1.

Thực Hành Nghiên Cứu Định Lượng – Tài Liệu Học Tập Ebooks PDF

.pdf
87.00 MB

Có thể bạn quan tâm