2.1. SỰ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC
2.1.1. Điều kiện kinh tế – xã hội
Cuối thế kỷ 18 trở đi, ở châu Âu, các cuộc cách mạng công nghiệp lần 1, 2 đã làm cho xã hội nông nghiệp bước vào xã hội công nghiệp. Cách mạng công nghiệp lần 1 diễn ra ở Anh, nhưng lần 2 trên quy mô lớn hơn ở Anh, Pháp, Ý,… và trên khắp châu Âu. Sự biến đổi về kinh tế đã kéo theo những biến đổi mạnh mẽ về xã hội.
2.1.1.1. Thay đổi cơ cấu xã hội
Sản xuất kiểu công nghiệp với quy mô lớn đòi hỏi phải mở rộng buôn bán, giao lưu với thị trường nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa công nghiệp. Từ đó đặt ra nhiều vấn để trong quá trình tổ chức và quản lý đô thị. Sự phát triển của công nghiệp đã hình thành nên cơ cấu xã hội mới. Ví dụ, cơ cấu kinh tế mới xuất hiện với thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế công nghiệp; cơ cấu giai cấp mới xuất hiện với giai cấp tư sản, giai cấp vô sản; cơ cấu gia đình thay đổi với sự gia tăng của các gia đình hạt nhân,…
2.1.1.2. Thay đổi hệ giá trị, chuẩn mực xã hội
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, nhiều quan niệm xã hội về những gì là tốt đẹp, là xấu xa; điều gì là đáng được tôn trọng, điều gì là đáng bị khinh bỉ,… có sự thay đổi. Đồng thời, những quan niệm xã hội về đúng, sai; được làm hay không được làm cũng thay đổi mạnh mẽ.
2.1.1.3. Thay đổi quan hệ xã hội
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo điều kiện nâng cao vị thế, vai trò của cá nhân, tạo điều kiện để cá nhân phát triển, nhưng với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nó lại ràng buộc sự phát triển cũng như tự do cá nhân. Do vậy xã hội châu Âu vào đầu thế kỷ 19 đặt ra một vấn đề cần giải quyết là: Trong mối quan hệ cá nhân với xã hội, làm thế nào để hình thành những điều kiện để phát triển năng lực cá nhân đồng thời đảm bảo sự ổn định xã hội.
2.1.1.4. Thay đổi thiết chế xã hội
Tổ chức và thiết chế tôn giáo trước kia rất có thế lực trở nên bị mất dần vai trò cùng quyền lực thống trị trước sức ép của hoạt động kinh tế đang diễn ra sôi động. Thiết chế gia đình cũng bị thay đổi khi ngày càng nhiều người rời bỏ cộng đồng làng quê, nông thôn ra thành phố sinh sống. Luật pháp ngày càng phải quan tâm tới việc điều tiết các quá trình kinh tế và các quan hệ xã hội mới. Ngay cả thiết chế và tổ chức hành chính, xã hội kiểu phong kiến, quân chủ độc đoán, chuyên chế cũng phải dần thay đổi theo hướng dân chủ hóa.
Những thay đổi trên diễn ra ở mọi nhóm, tầng lớp giai cấp trong xã hội. Xã hội châu Âu thời bấy giờ xuất hiện nhiều hiện tượng mới như bùng nổ dân số, thất nghiệp, bạo lực… Trước tình hình đó, các nhà nghiên cứu xã hội có mong muốn tìm hiểu, giải thích các hiện tượng, các quá trình kinh tế – xã hội và giải quyết các vấn đề của thời kì khủng hoảng này.
2.1.2. Điều kiện chính trị xã hội – tư tưởng
Sự kiện chính trị góp phần làm thay đổi căn bản thể chế chính trị, trật tự xã hội và các thiết chế xã hội châu Âu ở cuối thế kỷ 18 là cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Cùng với biến động chính trị có tính chất cách mạng ở Pháp là các biến động chính trị theo hướng “tiến hóa” ở các nước Anh, Đức, Ý và các nước khác. Đặc điểm chung của những biến động chính trị ở xã hội châu Âu thời bấy giờ là quyền lực chính trị chuyển sang tay giai cấp tư sản. Những biến động chính trị, xã hội ở Pháp đã đặt ra câu hỏi lý luận cơ bản của xã hội học Pháp, đó là: Làm thế nào để phát hiện và sử dụng các quy luật tổ chức xã hội nhằm góp phần tạo ra trật tự và tiến bộ xã hội?
Như vậy, sự xuất hiện và phát triển của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ trật tự xã hội phong kiến, gây nên những biến đổi trong đời sống kinh tế xã hội của các tầng lớp, giai cấp và các nhóm xã hội. Từ đó nảy sinh nhu cầu thực tiễn cần lập lại trật tự, ổn định xã hội và nhu cầu nhận thức để giải quyết những vấn đề mới mẻ nảy sinh từ cuộc sống đang biến động đó. Để đáp ứng được nhu cầu nhận thức và nhu cầu thực tiễn trên thì cần có sự tham gia nghiên cứu của khoa học.
Mặc dù ở châu Âu vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, khoa học phát triển nhưng khoa học xã hội thời bấy giờ gặp nhiều khó khăn trong việc lý giải và đưa ra các kết luận về các hiện tượng mới nảy sinh khi mà các hiện tượng xã hội, những hành vi của cá nhân thường được giải thích bởi lý thuyết, quan điểm mang tính cá nhân hay quan niệm mang tính tự nhiên. Ví dụ, khi nghiên cứu về hiện tượng tự tử, theo quan điểm cá nhân thì tự tử là hành động hạn hữu nhất trong mọi hành động được người có thần kinh không khỏe mạnh thực hiện.
Còn theo quan điểm tâm lý học thì tự tử xảy ra khi thần kinh mất cân bằng. Trong khi đó, trên thực tế thì tần suất, vị trí và kiểu tự tửđược quyết định chủ yếu bởi các nhân tố xã hội như tôn giáo, gia đình, hôn nhân,… chứ không phải các yếu tố cá nhân. Hay như theo quan điểm tự nhiên thì hôn nhân là hoàn toàn tự nhiên khi một người đàn ông và một người phụ nữ yêu nhau, muốn cùng sống với nhau và muốn có con. Nhưng trên thực tế, xu hướng lựa chọn người bạn đời phụ thuộc vào các đặc điểm xã hội của các cá nhân và các kiểu hôn nhân cũng dựa trên những nhân tố kinh tế, xã hội.