Tài Liệu Số Giáo Trình Văn Học Trung Quốc Lưu VIP

Tài Liệu Số Giáo Trình Văn Học Trung Quốc

Danh mục: , Người đăng: Lâm Gia Mộc Nhà xuất bản: Tác giả: Ngôn ngữ: Tiếng Việt Định dạng: Lượt xem: 29 lượt Lượt tải: 1 lượt

Nội dung

SỞ TỪ

I. KHÁI QUÁT

1. Nếu Kinh thi là tác phẩm tiêu biểu cho văn hóa phương Bắc thì Sở từ là tiêu biểu cho văn hóa phương nam (triết học Khổng Mạnh Phương bắc; Lão Trang phương nam).

Có thể nói Sở từ là tác phẩm của Khuất Nguyên vì toàn bộ tác phẩm theo thể loại này mà hiện nay còn giữ được hầu hết là của Khuất Nguyên.

2. Khuất Nguyên sống vào nửa sau thời Chiến quốc (Cuối thế kỉ IV đầu thế kỉ III TCN). Quê hương ông là nước Sở (thuộc Hồ Nam, Hồ Bắc hiện nay), một trong bảy nước mạnh thời Chiến quốc (gọi là Thất hùng). Trong bảy nước ấy, Tần mạnh nhất, kế đến Sở. Sở cầm đầu sáu nước chống lại sự thôn tính của Tần. Đó gọi là “hợp tung” chống lại đường lối “liên hoành” của Tần (do Trương Nghi chủ xướng). Rốt cục, đường lối “liên hoành” thắng thế, Tần bá chủ thiên hạ.

Khuất Nguyên đề ra “biến pháp” nhằm mục đích: đối ngoại – hợp tung chống Tần; đối nội – hạn chế quý tộc, cất dùng người tài, giảm nhẹ hình phạt. Vì chủ trương yêu nước và tiến bộ đó mà cuộc đời ông long đong lận đận. Khi vua thực hiện “biến pháp”, ông được trọng dụng, có lúc làm quan đến Tả đồ (Phó Thủ tướng). Khi vua nghe lời xúc xiểm, theo “liên hoành” ông bị thất sủng, bị lưu đày. Lần thứ hai, sau 14 năm lưu đày, khi Tần diệt Sở, ông nhảy xuống sông tự vẫn. Đó là ngày mùng 5 tháng 5 tết Đoan Ngọ.

3. Tác phẩm của Khuất Nguyên gồm từ, phú, thơ gọi chung là Sở từ (thơ, từ theo điệu Sở). Ngoài Li tao, Sở từ còn có những phần sau:

Cửu chương gồm 9 bài: Tích tụng (Tiếc làm thơ), Thiệp Giang (qua sông Giang), Ai Sính (Nhớ Sính đô), Trừu tư (Tô bày tâm sự), Hoài Sa (Nhớ Trường Sa), Tư mĩ nhân (Nhớ người đẹp), Tích vãng nhật (Nhớ ngày xưa), Quất tụng (Ngợi ca cây quất), Bi hồi phong (Buồn gió xoáy).

Trong 9 bài đó, đáng chú ý nhất là bài Quất tụng. Ông ca ngợi phẩm chất “đứng thẳng, không dựa dẫm” của cây quất, miêu tả chùm rễ cắm sâu vào đất phương nam khiến chúng ta nhớ đến cây tùng lá xanh suốt mùa đông giá rét vì “cội rễ bền, dời chẳng động” trong thơ Nguyễn Trãi.

Cửu ca gồm 11 bài dân ca được Khuất Nguyên cải biên, nói về việc tế thần mặt trời, thần núi, thần mây, thần coi việc nối dõi, thần sông Hoàng Hà, thần sông Tương… Đặc biệt có bài Quốc thương (Hồn liệt sĩ) có âm hưởng tế các chiến sĩ trận vong.

Thiên vẫn (Hỏi trời) là một bài thơ lạ, đề xuất hơn 130 câu hỏi về truyền thuyết, lịch sử. Theo Lỗ Tấn, khi lưu đày lên Hán Bắc, Khuất Nguyên quanh quẩn thăm viếng các đền đài miếu mạo, nhìn các bản vẽ trên tường mà nêu thắc mắc (Hán văn học sử cương yếu). Qua bài này, ta hiểu tư tưởng khai sáng của nhà thơ, cũng là dấu ấn của thời đại “trăm nhà đua tiếng”.

II. LÍ TÀO

Li tao là tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên, là bài thơ trữ tình đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc (373 câu, 2.490 chữ). Người xưa coi đó là viên ngọc quý và lạ, “tiền thế” vị văn, hậu thế mạc kế” (đời trước chưa nghe thấy, đời sau không ai theo kịp).

1. Tên tác phẩm

Li tao là gì? Theo Tư Mã Thiên (Sử kí): “Li tao là giả, lì ưu dã” (Li tao là buồn trong chi li). Theo Ban Cố: “Li là gặp, tao là lo âu, bản thân gặp điều lo âu mà viết nên”. Vậy Li tao là nỗi đau buồn chia li; ở đây là chia lì với Sở Vương, Sính đô và nước Sở.

2. Cảm hứng chủ đạo

Li tao là thơ trữ tình: tác giả bộc bạch tâm sự. Ở đây tác giả nói đến lịch sử, đến hoa thơm cỏ lạ, đến thế giới thần tiên… nhưng đó chỉ là mượn ngoài để nói trong, mượn người để nói mình. Mọi hình tượng trong Li tao đều nhuốm chung một màu sắc, đều bị chi phối bởi một cảm hứng, đó là: nỗi niềm cay đắng trong tình trạng thần tượng bị đổ vỡ, khát vọng bị vùi dập, nhân cách bị bôi nhọ, song song với ý chí kiên trình, bất khuất, quyết không bỏ chính theo tà, bỏ trong thay đục, thà chết để bảo toàn khí tiết.

3. Diễn biến tâm trạng

Nỗi niềm đó của nhà thơ được diễn tả dưới dạng tâm sự của một “người đẹp” đi tìm “bạn lòng”. Người đẹp đầy tự hào về gia thế, phẩm cách, ra sức trau chuốt vì sợ “muộn màng lỡ duyên”. Đây không phải là cái đẹp, cái duyên thông thường mà là khát vọng vươn tới chân, thiện, mĩ. Khát vọng bị thói đời xuyên tạc, bôi nhọ:

Chúng ghen ta có mày ngài

Phao cho ta tiếc con người lẳng lơ…

Làm xinh ta khéo vô duyên

Sớm vừa can gián chiều liền sa cơ…

Thói đời “bẩn thỉu nhỏ nhen” ấy làm cho “người đẹp” đau đớn đến rơi lệ:

Nức nở khóc lo buồn đầy dạ Tủi cho thân sinh đã lỗi thời…

Cái “lỗi thời” ở đây, trước tiên là do không gặp “minh chúa”: Nhà thơ “Chín lần thể với trời xanh – Chỉ vì ta quá yêu mình đấy thôi”, nhưng Sở Vương là tên hôn quân, vô đạo, “Tình ta mình chẳng xét cùng – Nghe lời ton hót đem lòng giận ta”; sau nữa là còn do thói đời a dua, xu nịnh: “Chen chúc nhau trên đường vụ lợi – Tấm lòng tham, tham mãi, tham hoài – Đem dạ mình đọ bụng người…”.

Nỗi đau ở đây là nỗi đau đổ vỡ, là sự không chịu đựng nổi của một nhân cách cao cả trước thực tế tối tăm, bẩn thỉu. Nhưng nhà thơ không khuất phục, ông nghĩ đến phương châm “độc thiện kì thân” của nhà nho: “Mũ ta đội xốc lên cao ngất – Áo xiêm ta buông thật dịu dàng…”, “Áo như thế thói đời chẳng mặc – Ta cứ theo phép tắc người xa…”.

Tải tài liệu

1.

Tài Liệu Số Giáo Trình Văn Học Trung Quốc

.pdf
1.58 MB

Có thể bạn quan tâm