Tài Liệu Số Giáo Trình Tư Duy Thơ Hiện Đại Việt Nam Lưu VIP

Tài Liệu Số Giáo Trình Tư Duy Thơ Hiện Đại Việt Nam

Danh mục: , Người đăng: Lâm Gia Mộc Nhà xuất bản: Tác giả: Ngôn ngữ: Tiếng Việt Định dạng: Lượt xem: 76 lượt Lượt tải: 0 lượt

Nội dung

1.2. Khái niệm tư duy và các khái niệm kế cận

Bước vào thập kỷ cuối cùng của thế kỉ XX, tri thức của loài người về thế giới hiện thực đã tăng lên vô tận.

Theo số liệu gần đây, mỗi năm nhân loại lại có thêm khoảng một triệu phát minh khoa học lớn nhỏ. Trong số đó khoảng 300 ngàn luận án Tiến sĩ khoa học và 700 ngàn sáng chế, phát minh.

Kho tàng tri thức nhân loại đã được ghi lại vào trong hàng triệu tấn sách báo. Con người đã phải dùng đến thiết bị vi điện tử để thu nhỏ các ấn phẩm, lưu trữ tư liệu vào các đĩa CD, VCD.

Những cuộc cách mạng về vật liệu, về năng lượng, về điều khiển đang diễn ra trên toàn cầu như vũ bão. Sự ra đời của các thế hệ máy vi tính, người máy Rôbốt và sự phát hiện kỹ thuật vi điện tử hiện đại đã chứng tỏ rằng trí tuệ của con người là vô hạn với tư cách là trí tuệ của “loài”.

Con người đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của vỏ trái đất, thay đổi cả môi trường sinh thái và gây ra biết bao thiên tai từ những đám mây bụi công nghiệp khổng lồ, từ sự làm kiệt quệ đất đai, làm khô cạn các sông hồ, làm diệt chủng nhiều loài động và thực vật.

Con người đã và đang vươn tới các hành tinh ngoài trái đất, vươn tới các vì sao xa vời, xa đến nỗi ánh sáng của chúng muốn đến được quả đất, phải trải qua hàng tỉ năm liên tục “vận động”.

Nhưng, như A. Anhstanh, nhà khoa học lỗi lạc bậc nhất của thế kỷ XX đã nhận xét, điều khó hiểu đối với con người, điều mà con người không thể hiểu được là tại sao con người lại hiểu được thế giới?

“CE QU’LL Y A D’INCOMPRÉHENSIBLE C’EST QUE LE MONDE EST COMPRÉHENSIBLE” (80, tr.63)4.

Tại sao con người có thể hiểu được thế giới? Đó là một câu hỏi lớn của triết học hiện đại và cả triết học tương lai.

Trước thế kỉ XX, loài người vẫn tập trung năng lực và trítuệ của mình chủ yếu về phía khách thể, nhằm giải thích thể giới, và cao hơn nữa là cải tạo thế giới. Câu hỏi lớn nhất của toàn bộ triết học trước thế kỉ XX về mặt nhận thức luận vẫn là, con người có hiểu biết được thế giới khách quan hay không? Vai trò của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là như thế nào? Rất nhiều triết gia và nhiều trường phái triết học đã tranh luận đến mức nảy lửa. Nhưng câu trả lời của triết học Duy vật có sức thuyết phục hơn cả. Đó là con người có thể hiểu được thế giới, và vai trò của ý thức là vô cùng quan trọng. V.I. Lênin đã đi sâu phân tích triết học duy vật biện chứng của C. Mác và còn nhấn mạnh thêm vai trò ý thức. “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới”.

“Con người có thể hiểu được thế giới” – đó là mệnh để thứ nhất, kết luận thứ nhất vô cùng quan trọng, sau hàng ngàn năm mới đúc rút được.

Nhưng tại sao con người lại có thể hiểu được thế giới?

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, bởi vì con người có lao động và có tư duy.

Tu duy là gì?

Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khíquan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh.

Tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại.

Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm. Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người. Bởi vậy, có thể định nghĩa: “Con người là một động vật có tư duy”.

Tư duy (Pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người.

Tư duy được phân biệt với ý thức (conscience). Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý. Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy là ý thức ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người.

Tư duy còn được phân biệt với trí tuệ, trí thông minh (intelligence). Ở một mức độ nào đó, có những con vật cũng có trí thông minh mặc dù chúng không có tư duy.

Tư duy và lí trí (raison) không phải là một. Nói đến lý trí là nói đến cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức. Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lý trí nhằm mục đích nhận thức.

Tư tưởng (Idée) hay con gọi là quan niệm tư tưởng, vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư duy. Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con người. Tư tưởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội dung tình cảm nào đó. Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy. Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp.

Tải tài liệu

1.

Tài Liệu Số Giáo Trình Tư Duy Thơ Hiện Đại Việt Nam

.pdf
40.29 MB

Có thể bạn quan tâm