3. Thông tin đối ngoại, truyền thông đối ngoại, truyền thông quốc tế
Về khái niệm thông tin đối ngoại, Từ điển tiếng Việt nêu ngắn gọn hai khái niệm đơn lẻ: “thông tin” là “truyền tin, báo tin cho người khác biết”; “đối ngoại” là “đối với nước ngoài, bên ngoài”; “đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức”. Như vậy, thông tin đối ngoại là hoạt động thông tin ra nước ngoài của một nhà nước; là hoạt động truyền tải thông tin trong lĩnh vực đối ngoại.
Cụ thể hơn: thông tin đối ngoại là những hoạt động chủ động cung cấp thông tin có định hướng của chủ thể để giới thiệu, phổ biến, quảng bá, giải thích, lập luận, thuyết phục… về một đối tượng cụ thể (một đất nước, một tổ chức, nhóm người, hoặc một cá nhân…) nhằm mục đích gây thiện cảm, mong muốn hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nhân tố có yếu tố nước ngoài hoặc để đối phó, phản bác đối với những thông tin sai lệch, gây bất lợi cho chủ thể thông tin đối ngoại. Theo cách hiểu khác, thông tin đối ngoại còn là những tin tức, sự kiện, bình luận có chủ đích của chủ thể thông tin đối ngoại… được cung cấp mang tính ngoại giao và giao thiệp, ứng đối với nước ngoài.
Trước bối cảnh toàn cầu hóa vẫn diễn ra phức tạp, vì mục tiêu phát triển và hội nhập của mình, nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm đến công tác thông tin đối ngoại, tích cực sử dụng mọi phương tiện truyền thông trong thông tin đối ngoại. Họ coi đó là vấn đề quan trọng nhằm quảng bá những giá trị tốt đẹp, những lợi thế vốn có, đồng thời quảng bá, nâng cao vị thế, vai trò của quốc gia trên trường quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác sâu rộng để các bên đều có lợi.
Thông tin đối ngoại và truyền thông đối ngoại có những phần giao thoa, gần trùng lên nhau, nhưng vẫn có thể phân biệt được. Trong giáo trình này chủ yếu dùng danh từ “truyền thông đối ngoại”, nhưng có những đoạn vẫn dùng danh từ “thông tin đối ngoại” ví dụ khi vận dụng vào bối cảnh Việt Nam, do các cơ quan chức năng đều sửdụng cụm từ đó. Trên thực tế, nhiều học giả vẫn cho rằng khái niệm “truyền thông đối ngoại” mang hàm nghĩa chuyên môn hơn, cụ thể hơn, phổ quát hơn trong thời đại công nghệ thông tin có những bước tiến mới và truyền thông ngày càng có vai trò lớn hơn trong xã hội trong quan hệ giữa các nước.
Ví dụ khi chuyên gia A thông báo với đồng nghiệp: tàu nước đối tượng tập trận gần vùng lãnh hải nước ta (đó là thông tin đã mang tính đối ngoại), nhưng khi A truyền đạt với đồng nghiệp: tàu nước X tập trận sát đảo Trường Sa lớn của Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, một số nước ASEAN phản đối mạnh mẽ. Chiều nay cơ quan chức năng, các báo đối ngoại và đơn vị chúng ta nghe cấp trên phổ biến chủ trương để kịp thời phối hợp khi truyền thông, đấu tranh dư luận bảo vệ chủ quyền biển đảo… (đó chính xác là truyền thông đối ngoại).
Xã hội ngày càng văn minh, hiện đại, thông lệ quốc tế càng hướng tới chủ trương: đối ngoại là mối quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia mang lại lợi ích song song cho các bên; đối ngoại là nhằm củng cố mối quan hệ hợp tác, nâng cao tình hữu nghị và không can thiệp vào nội bộ của nhau; các hoạt động liên quan đối ngoại như truyền thông đối ngoại cũng phục vụ cho các mục đích đúng đắn đó. Bản chất truyền thông đối ngoại là quan hệ trao đổi, thu nhận, tương tác thông tin, truyền phát thông điệp giữa hai quốc gia với nhau nhằm mang lại lợi ích song phương.
Đó là quan hệ truyền thông trực tiếp, gián tiếp thông qua nhiều kênh, theo các thiết chế, nhu cầu do hai nước thỏa thuận hoặc theo thông lệ, pháp luật quốc tế. Truyền thông đối ngoại là tổng thể mọi hoạt động liên quan đến nguồn phát, thông điệp, công chúng, phương thức truyền thông, chủ thể, công nghệ truyền thông… của một nước đối với nước khác. Truyền thông đối ngoại là một bộ phận quan trọng hợp thành chính sách đối ngoại của một quốc gia, liên quan nhất định đến công tác tư tưởng, nhận thức chính trị, văn hóa – xã hội, dân trí của quốc gia đó, góp phần vào việc tăng cường vị thế quốc gia.
Một quốc gia được coi là có ảnh hưởng nhiều đến nước khác, hay trong khu vực thì cần hội đủ các yếu tố: có uy tín quốc tế lớn (truyền thông đối ngoại đóng góp nhất định khi xây dựng uy tín, thương hiệu quốc gia); là nước đạt nhiều thành tích quan trọng đối với thế giới; có lực lượng, sức mạnh truyền thông hùng hậu. Do phục vụ lợi ích quốc gia nên trong truyền thông đối ngoại, chủ thể chủ yếu chọn lọc truyền đạt, trao đổi thông điệp tích cực, nếu so với truyền thông quốc tế không gắn liền với một quốc gia cụ thể nên không có chiến lược, chính sách cụ thể mà chỉ tồn tại các xu hướng tác nghiệp, sự thay đổi cách thức truyền thông, cải tiến phương tiện, vai trò chủ thể mới, chủ đề quốc tế (cả vấn đề tích cực lẫn tiêu cực)…
Truyền thông đối ngoại luôn xác định một bên là ai (quốc gia chủ thể) và bên kia là các quốc gia còn lại. Do luôn gắn với một quốc gia cụ thể nên sẽ luôn tồn tại chính sách, chiến lược truyền thông đối ngoại rõ ràng, cụ thể mang lại lợi ích cho quốc gia chủ thể và phục vụ các quyền lợi liên quan đã được các bên tham gia thỏa thuận. Vì muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia nên trong truyền thông đối ngoại, chủ thể thường không muốn truyền đạt thông điệp tiêu cực, không tự làm “hở sườn” của mình, không tự “vạch áo cho người xem lưng”.