2. Sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử
a. Những vẫn để có tính quy luật của sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử
Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có thể nhận thấy lịch sử triết học có hai đặc điểm về tính quy luật. Đặc điểm thứ nhất là tính quy luật phản ánh của lịch sử triết học được khái quát từ các điều kiện kinh tế – xã hội, sự phát triển của văn hoá và khoa học trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Đặc điểm thứ hai là tính quy luật giao lưu, bao gồm giao lưu đông loại và giao lưu khác loại.
Giao lưu đồng loại bao gồm giao lưu theo lịch đại và giao lưu theo đồng đại, trong đó giao lưu theo lịch đại cho thấy được tính kế thừa, phát triển tư tưởng triết học nhân loại theo chiều dọc của thời gian, còn giao lưu theo đồng đại còn chỉ ra sự liên hệ, ảnh hưởng, kê thừa, kết hợp các học thuyêt triết học trong cùng một thời gian.
Giao lưu khác loại bao gồm giao lưu giữa triết học với các hình thái ý thức xã hội khác, kể cả kế thừa các hình thái ý thức xã hội có liên quan để phát triển và giao lùu, ảnh hưởng giữa các hệ thống triết học khác nhau trong lịch sử. Theo đó, sự phát sinh, phát triển của lịch sử tư tưởng triết học chịu sự quy định của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan mang tính quy luật.
Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng, trào lưu triết học phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội. Dựa trên nguyên lí tôn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, sự phát triển của tư tưởng triết học trong lịch sửluôn phụ thuộc vào tồn tại xã hội, mà trước hết là phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất. Mặt khác, quan điểm, tư tưởng triết học là sự phản ánh nhu cầu phát triển của chính thực tiễn xã hội. Vì vậy, nó phụ thuộc vào thực tiễn đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị – xã hội trong lịch sử. Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, triết học chưa xuất hiện và cũng chưa có tư duy triết học với đúng nghĩa của nó, bởi vì, cộng đồng người nguyên thuỷ chưa đủ sức tách mình ra khỏi giới tự nhiên để tồn tại như một xã hội.
Triết học chỉ thực sự xuất hiện khi điều kiện kinh tế – xã hội phát triển, khi xã hội có sự phân công thành lao động trí óc và lao động chân tay, có sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp.
Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trình độ phát triển của tư duy triết học nhân loại phụ thuộc vào trình độ nhận thức chung của nhân loại, tức là phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Sự phát triển của khoa học vừa là cơ sở, vừa là điều kiện cho triết học phát triển.
Ngược lại, sự phát triên của triết học vừa là kết quả, vừa là cơ sở cho sự phát triển của các khoa học. Vì vậy, với tính cách là một khoa học, sự phát triển của triết học tất yêu phải dựa vào sự phát triển của khoa học. Mặt khác, triết học lại có vai trò không thể thiếu đối với sự phát triển của các khoa học cụ thể. Thực tiễn lịch sử cho thấy, điều kiện kinh tế – xã hội và trình độ phát triển khoa học là yếu tố xét đến cùng quyết định nội dung các luận thuyết triết học và trong chừng mực, quyết định cả hình thức thể hiện tư tưởng triết học.
Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng triết học cơ bản – chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đây là vấn đề mang tính quy luật nội tại, xuyên suốt, quyết định trực tiếp đến sự phát triển của triết học trong lịch sử. Quá trình phát triển của triết học trong lịch sử đồng thời là quá trình đầu tranh liên tục giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa khoa học và tôn giáo.
Trong quá trình đấu tranh với các học thuyết đối lập, mỗi học thuyết triết học cũng tự đấu tranh để khẳng định mình và phát triển lên một trình độ mới. Quá trình đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm trong lịch sử cũng đồng thời là một quá trình giao lưu, tác động giữa các trường phái, môn phái triết học với nhau. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là đấu tranh giữa hai mặt đối lập cơ bản trong nội dung tư tưởng triết học nhân loại.
Thông qua cuộc đấu tranh đó, triết học của mỗi thời đại có sự phát triên mang tính độc lập tương đối so với sự phát triển của điều kiện kinh tế – xã hội, chính trị, văn hoá và khoa học; làm cho mỗi hệ thống triết học có thể “vượt trước” hoặc “thụt lùi” so với điều kiện vật chất của thời đại đó. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tạo thành động lực bên trong lớn nhất, là bản chất, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư tưởng triết học.
Sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức trong lịch sử là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Sự phát triển của lịch sử triết học cũng chính là sự phát triển của trình độ nhận thức, của phương pháp tư duy nhân loại, thông qua cuộc đấu tranh giữa phương pháp biện chứng và siêu hình. Đây cũng là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, tạo nên động lực bên trong của sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Đấu tranh giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình gắn liền với cuộc đấu tranh giữa hai thế giới quan đối lập nhau là thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm trong lịch sử triết học.