Tài Liệu Số Bệnh Ký Sinh Trùng Ở Gia Súc Gia Cầm Việt Nam Lưu VIP

Tài Liệu Số Bệnh Ký Sinh Trùng Ở Gia Súc Gia Cầm Việt Nam

Danh mục: , Người đăng: Ly Võ Thị Nhà xuất bản: Tác giả: , Ngôn ngữ: Tiếng Việt Định dạng: Lượt xem: 42 lượt Lượt tải: 0 lượt

Nội dung

KHÁI NIỆM VỀ KÝ SINH TRÙNG

Hiện tượng ký sinh và định nghĩa về ký sinh trùng học

Hiện tượng ký sinh (Parasitos)

Hiện tượng kỳ sinh là một trong những hình thức sinh tổn của sinh vật với đặc điểm: cơ thể sinh vật này sống trên hoặc trong cơ thể sinh vật khác và sử dụng cơ thể ấy để làm lợi cho mình.

Ngày nay hiện tượng ký sinh được V. R. Echov định nghĩa như sau: “Hiện tượng kỳ sinh là mối quan hệ qua lại phức tạp giữa hai sinh vật, trong đó một sinh vật – được gọi là ký sinh trùng, cư trú tạm thời hay vĩnh viễn ở sinh vật khác – được gọi là ký chủ, lấy thế dịch, tổ chức của ký chủ làm thức ăn, đồng thời gây hại cho ký chủ”.

Định nghĩa về ký sinh trùng học (Parasitology)

Ký sinh trùng học là môn khoa học nghiên cứu về hiện tượng ký sinh, những bệnh do ký sinh trùng gây ra và biện pháp phòng trừ chúng.

Nội dung của ký sinh trùng học

Ký sinh trùng học được chia làm hai bộ phận:

Ký sinh trùng học thực vật (Phytoparasite)

Nghiên cứu những ký sinh trùng thuộc giới thực vật gồm: vi khuẩn, virus, nấm ký sinh. Bệnh do ký sinh trùng giới thực vật gây ra được gọi là bệnh truyền nhiệm.

Ký sinh trùng học động vật (Zooparasite)

Nghiên cứu những ký sinh trùng thuộc giới động vật bao gồm: giun, sán, chân đốt và đơn bào ký sinh ở động vật. Bệnh do ký sinh trùng giới động vật gây ra được gọi là bệnh ký sinh trùng động vật.

Phân loại ký sinh trùng học

Tùy theo đối tượng nghiên cứu mà ký sinh trùng học động vật lại chia thành: ký sinh trùng học thú y, ký sinh trùng y học, ký sinh trùng thủy sản.

Ký sinh trùng học thú y chuyên nghiên cứu các ký sinh trùng thuộc giới động vật ký sinh ở vật nuôi, những bệnh do chúng gây ra và biện pháp phòng trừ chúng,

Nghiên cứu ký sinh trùng thú y bao gồm: nghiên cứu về hình thái, vị trícủa ký sinh trùng trong hệ thống phân loại động vật, nghiên cứu về sinh lý, sinh thái, lịch sử phát dục và phân bố địa lý của ký sinh trùng.

Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi là nghiên cứu cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán và phòng trừ bệnh nhâm bảo vệ sức khỏe cho gia súc, phát triển ngành chăn nuôi, bảo vệ con người tránh được các bệnh ký sinh trùng từ vật nuôi truyển sang người.

Thiệt hại do ký sinh trùng gây ra

Một số bệnh ký sinh trùng phát sinh ở thể cấp tỉnh có khả năng lây lan mạnh, lưu hành ở từng vùng làm vật nuôi cảm nhiễm nhiều, tỷ lệ chết cao. Ví dụ: Bệnh lê dạng trùng ở bò sữa nhập nội, bệnh cầu trùng ở thô…

Phần lớn ký sinh trùng gây bệnh cho vật nuôi ở thế màn tỉnh với đặc điểm: âm thầm, dai dẳng làm vật nuôi chậm sinh trường, phát triển, giảm sức đề kháng và dễ mắc các bệnh khác, song con người lại ít chủ ý tới. Những thiệt hại mà ký sinh trùng gây ra cho vật nuôi thường được biểu hiện qua những mật sau:

Giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi

Những bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là những bệnh giun, sán thường làm vật nuôi mắc bệnh ở thể mân tỉnh, làm giảm khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, gây thiệt hại nhiều về kinh tế. Ví dụ: Lợn nhiễm nhiều Ascaris suum (giun đũa) giảm tăng trọng tới 30%. Lợn nhiễm Fasciolopsis buski (sán lá ruột), trung bình 35 ngày giảm tăng trọng so với lợn không nhiễm săn là 5.8kg. Lợn nhiễm Strongyloides ransomi (giun lươn) giảm tăng trọng tới 35%.

Giảm khả năng cho các sản phẩm khác

Giảm phẩm chất của thịt: Trâu, bò nhiễm Trypanosoma evansi (tiên mao trùng), thịt nhão, chứa nhiều nước, không ngon. Thịt lợn nhiễm gạo, ấu trùng giun xoắn, thịt bò nhiễm gạo, các phủ tạng vật nuôi nhiễm Echinococcus, Fasciola spp. đều phải hủy bỏ.

Giảm sản lượng sữa: Bò mắc Hypoderma hovis (giòi da) sản lượng sửa giảm từ 10 đến 25%, nhiễm Fasciola spp có thể làm giảm sản lượng sửa tới 40%. Những bệnh ký sinh trùng trong máu có thể làm giảm sản lượng sữa bò tới 50%.

Giảm phẩm chất da & lông của vật nuôi: Cửu khi mắc ghẻ Psoroptes sp gây rụng lông làm giảm sản lượng lông, ảnh hưởng tới ngành công nghiệp len. Hypoderma bovis (giỏi da) thường làm rách, thúng da gây thiệt hại cho ngành thuộc da.

Giảm sức cày kéo của vật nuôi. Những tác động của ký sinh trùng thường gây ra thể bệnh mãn tính, làm cho trâu, bò, ngựa còi cọc, gây yếu, chậm sinh trưởng và phát triển, không đảm nhận được sức cày kéo. Ví dụ: Các bệnh do Fasciola spp. (sán lá gan), Trypanosoma spp. (tiên mao trùng) thường làm trâu bò gây yếu và chết nhiều vào vụ đông xuân.

Bệnh ký sinh trùng thường ghép thêm nhiều bệnh khác: Thời kỳ ấu trùng ký sinh trùng di hành, thời kỳ ký sinh trùng trường thành gây tổn thương cho nhiều khí quan trong cơ thể, mở đường cho các bệnh khác kế phát. Khi súc vật mắc bệnh ký sinh trùng làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn và virus có cơ hội phát sinh.

Một số bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi có thể truyền và gây bệnh cho người: Bệnh sán lá gan ở trâu bò Fasciola gigantica, Fasciola hepatica; bệnh sán lá gan nhỏ ở chó mèo do Clonorchis sinensis, Opisthorchis felineus có thể lây nhiễm gây bệnh viêm gan cho người.

NGUỒN GỐC CỦA KỲ SINH TRÙNG

Những dân liệu hiện đại về hình thái học, phôi sinh học đã cho thấy: tất cả các nhóm, các lớp của động vật kỳ sinh có họ hàng rõ ràng với các động vật sống tự do. Điều đó có nghĩa các cơ thể sống tự do là tổ tiên của động vật ký sinh. Sự chuyển tiếp từ động vật sống tự do sang sống ký sinh có nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng hình thức ký sinh và từng nhóm động vật khác nhau.

Nguồn gốc của ngoại ký sinh

Ngoại ký sinh được bắt đầu từ các con đường sau:

– Tăng cường dẫn mối quan hệ về thức ăn của động vật này với bề mặt của động vật khác. Ví dụ: những sản là ký sinh ở cả bắt nguồn từ hiện tượng hội sinh.

Tải tài liệu

1.

Tài Liệu Số Bệnh Ký Sinh Trùng Ở Gia Súc Gia Cầm Việt Nam

.pdf
17.06 MB

Có thể bạn quan tâm