Chương 1 DƯỢC LÍ HỌC
A. ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC VÀ NHỮNG NGUYÊN LÍ CHUNG KHI SỬ DỤNG THUỐC THÚ Y
Dược lí học thú y là môn học chuyên nghiên cứu về tính năng, tác dụng của thuốc đối với cơ thể vật nuôi.
Lịch sử nghiên cứu thuốc phát triển cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ngay từ thời nguyên thuỷ, con người khi bị đau đớn, bệnh tật đã biết sử dụng những loại cây cỏ có trong thiên nhiên để ăn, uống, bôi, đắp… và thấy giảm đau khỏi bệnh. Từ đó, người ta dần tập hợp được kinh nghiệm dùng thuốc trị bệnh tuy lúc đầu còn thô sơ.
Thời cổ đại đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về thuốc của Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và nhiều nước khác. Cuối thời Trung cổ, người ta đã biết sử dụng các chất hoá học như thuỷ ngân, sắt, đồng… vào việc trị bệnh, mở ra một ngành Hoá học dược phẩm từ đó.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của các ngành khoa học như Hoá học, Sinh li học, Sinh hoá học…, Dược lí học cũng phát triển mạnh mẽ. Những nhà Vi sinh vật học như Patstơ (Pasteur, 1822-1895), Metnhicôp (Metchnikov 1845 – 1910), Kốc (Kock) đã có nhiều công trình nghiên cứu thuốc phòng và chữa bệnh.
Học thuyết thần kinh của Pap-lop (Pavlov) đã chỉ ra rằng cơ thể là một khối thống nhất; cơ thể và ngoại cảnh có quan hệ mật thiết với nhau do đó đã mở ra cho Dược lí học hướng nghiên cứu mới.
Cuộc Đại chiến lần thứ nhất và thứ hai thúc đẩy việc tìm kiếm các thuốc mới chống nhiễm trùng như Penicilin, Streptomycin, Sunfamid.
Ở Việt Nam cũng đã có một nền y học rất phong phú. Các danh y như Lăn Ông, Phan Phù Tiên, Tuệ Tĩnh đã để lại nhiều công trình về thuốc. Hiện nay Nhà nước đang tổ chức nghiên cứu lại về dược liệu học trên cơ sở khoa học và đã thu được nhiều kết quả tốt.
I. KHÁI NIỆM VỀ THUỐC
1. Khái niệm thuốc
Thuốc là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hay những chế phẩm sinh học có trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra dùng để điều trị và phòng bệnh cho người và động vật.
2. Mối liên hệ giữa thuốc, chất độc và thức ăn
Thuốc là những chất khi đưa và cơ thể vật nuôi giúp cơ thể đang bị rối loạn về một chức năng sinh lí nào đó trở lại bình thường (thuốc chữa bệnh), hoặc giúp cơ thể vật nuôi có sức đề kháng, chống được với bệnh (thuốc phòng bệnh).
Chất độc: là những chất khi vào cơ thể với liều lượng nhỏ đã gây nên những kích thích nguy hiểm, làm rối loạn chức năng sinh lí của cơ thể; nếu dùng với liều lớn hơn có thể gây ra tử vong.
Thức ăn: được đưa vào cơ thể qua đường tiêu hoá với số lượng và tỉ lệ thích hợp để nuôi dưỡng cơ thể, giúp cơ thể sống, sinh trưởng và phát triển bình thường.
Giữa thuốc và chất độc đôi khi khó xác định ranh giới, có khi chỉ khác nhau về liều lượng hoặc cách sử dụng. Ví dụ: Nọc rắn rất độc nhưng lại được dùng làm nguyên liệu để chế một số loại thuốc. Hoặc muối ăn, trong khẩu phần ăn, nó đóng vai trò thức ăn, nhưng nếu sử dụng để sát trùng hoặc truyền tĩnh mạch dưới dạng dung dịch nước muối sinh lí (NaCl 0,9%) thì có vai trò là thuốc. Khi sử dụng muối quá liều cũng có thể gây ngộ độc cho vật nuôi.
II. NGUỒN GỐC CỦA THUỐC
Thuốc có từ rất nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể phân ra như sau:
1. Thuốc có nguồn gốc từ thực vật
Thuốc có nguồn gốc thực vật là những loại thuốc lấy từ rễ, thân, lá, hoa… của các cây cỏ tự nhiên. Ví dụ:
– Từ lá: lá tía tô, lá kinh giới, cỏ mần trầu có tác dụng chữa chứng cảm nóng; lá vông chữa chứng mất ngủ, lá khế chữa ngộ độc sắn.
Từ quả: quả dành dành có tác dụng lợi tiểu, cầm máu, chữa các bệnh sốt cao, mất ngủ, viêm gan, chảy máu cam, đi lị ra máu… Quả sử quân tử để tẩy giun cho lợn.
– Từ thân và rễ: cây sài đất chữa mụn nhọt, rau má có tác dụng giải nhiệt, rễ cây có tranh có tác dụng lợi tiểu.
Từ hoa: hoa kim ngân chữa mụn nhọt, mẩn ngứa (phối hợp với quả ké có tác dụng tốt hơn). Hoa sắn dây (lấy lúc hoa chưa nở hết) phơi khô cho vật nuôi uống có tác dụng chữa bệnh viêm ruột.
Từ hạt: hạt bí ngô có tác dụng tẩy sản, hạt muồng (thảo quyết minh) dùng để chữa đau mắt.
2. Thuốc có nguồn gốc từ động vật
Người ta đã nghiên cứu được nhiều loại thuốc quý có nguồn gốc từ động vật dùng trong y tế như:
– Vẩy con tê tê chữa bệnh tắc tia sữa, mụn nhọt…
– Tắc kè chữa bệnh lao, yếu phổi, ho hen, thận kém, có tác dụng tăng hồng cầu, tăng huyết sắc tố…
– Mật ong có tác dụng an thần, giảm độ axit ở dạ dày, là chất kháng sinh đối với -nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lị… chữa các bệnh viêm họng, đau loét dạ dày, táo bón, bỏng.
Trong thú y sử dụng rượu rết, rượu thạch sùng để chữa bệnh gà rù; bột xương nung, cua đồng cho gà ăn chữa bệnh gà đẻ trứng non. Lấy máu của vật nuôi lớn (đã được tạo miễn dịch tối đa với một bệnh truyền nhiễm nào đó) để chế huyết thanh phòng và chữa bệnh truyền nhiễm.
3. Thuốc có nguồn gốc từ chất khoáng
Những nguyên tố như coban, sắt, đồng, natri, canxi, selen… đều là những chất có nguồn gốc từ chất khoáng, có tác dụng điều trị hội chứng thiếu khoáng hoặc rối loạn trao đổi khoáng ở vật nuôi.
Ví dụ: Các loại thuốc chế từ muối khoáng của coban, sắt, natri…
Chế phẩm Dextran Fe là sản phẩm gắn Fe³ với đường, dùng để tiêm cho gia súc non, chống thiếu máu.
4. Thuốc có nguồn gốc từ tổng hợp hoá học
Các thuốc này được điều chế thực sự tinh khiết bằng phương pháp hoá tổng hợp. Ví dụ: sulfamid, nofloxaxin, một số thuốc giảm sốt, thuốc trợ tim…
5. Thuốc có nguồn gốc từ vi sinh vật
Gồm những loại thuốc được chế tạo từ môi trường nuôi cấy vi sinh vật như: nấm, vi khuẩn, siêu vi trùng…
Hầu hết các loại kháng sinh như penixilin, Streptomyxin… được chế từ môi trường nuôi cấy nấm.
Các loại vacxin phòng bệnh truyền nhiễm được chế từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn, virus.