PHẦN 1 CÁC BỆNH CHUNG CHO LỢN, TRÂU, BÒ, DÊ, CỪU, CHÓ, MÈO, THỎ
Câu 1. Bệnh than là bệnh gì?
Đáp:
Gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng, thi thoảng có đưa các tin bọn khủng bố quốc tế dùng bom thư, bom vi trùng đe dọa hoặc khủng bố ở nước này hoặc nước khác. Trong bom thư vi trùng luôn chứa các vi khuẩn gây bệnh than.
Bệnh than là một bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm ở người và động vật nuôi do vi khuẩn Bacillus anthracis gây ra. Bệnh có các biểu hiện đặc trưng gồm: nhiễm trùng huyết, sốt rất cao (sốt trong, rét ngoài hay còn gọi là sốt rét), bệnh gây đau nhức toàn thân, từ các lỗ mùi, lỗ mồm, lỗ tai, âm hộ, hậu môn có máu đen chảy ra ngoài, vì thế người ta gọi bệnh này là bệnh than, bệnh còn có tên là bệnh nhiệt thán. Tỷ lệ tử vong do bệnh than gây ra lên đến 100%,
Câu 2. Làm thế nào để phát hiện ra bệnh than?
Đáp:
Bệnh than do một loại vi khuẩn yếm khí, hình que, gram dương, không di động, đầu tù. Trong cơ thể động vật, chúng thường xếp thành sợi ngắn, trong môi trường nuôi cấy để phân lập xác định thì xếp thành sợi dài. Ra khôi cơ thể động vật ở điều kiện môi trường sống không phù hợp thì vi khuẩn tự tạo ra một vỏ bọc trơ biến thành nha bào để tồn tại mà vẫn giữ nguyên khả năng gây bệnh trong thời gian rất dài, hàng vài chục năm.
Động vật bị bệnh do ăn, uống phải thức ăn, nước uống bị nhiễm nha bào vi khuẩn than, rất ít khi bệnh lây theo đường hô hấp hoặc do côn trùng.
Bệnh phát tán từ địa phương này đến địa phương khác chủ yếu do động vật hoang dã, đưa một phần xác chết động vật bị bệnh than đến.
Bệnh lây truyền từ nước này đến nước khác chủ yếu do nhập xuất khẩu bột xương thịt động vật bị bệnh than.
Bệnh xảy ra quanh năm và không phụ thuộc vào mùa khí hậu. Bệnh than có 3 thể biểu hiện:
a. Thế quá cấp
Bệnh xuất hiện đột ngột; gia súc bị bệnh bỗng nhiên lăn đùng ra đất, giãy giụa như bị sét đánh rồi ộc máu đen từ các lỗ tự nhiên (mốm, mùi, âm hộ, hậu môn…) ra ngoài, sau đó chỉ vài phút, lâu nhất khoảng 1/2 giờ là chết.
b. Thế cấp tính
Gia súc bị bệnh có các biểu hiện: sốt rất cao, và mồ hôi, nhịp tim. nhịp thở tăng mạnh, gia súc bỏ ăn hoàn toàn, nằm bẹp run rẩy. Vạch mắt và miệng thấy có nhiều điểm xuất huyết, lúc đầu đỏ tấy, sau thâm tím. Xuất hiện các ổ phù nề nóng và rất đau ở dưới hấu, họng. Gia súc ốm, đi ngoài ra máu, động vật chứa luôn bị sảy thai, bệnh kéo dài 3-7 ngày rối chết.
c. Thể dưới cấp tỉnh
Ngay dưới da của một số vùng trên cơ thể (thường thấy nhất ở vùng hấu) xuất hiện nhiều ở phù nề, đau rát, lúc đầu rất nóng, sau 3-4 ngày trở nên lạnh và từ tâm các ổ phủ nẽ bị thối rữa hình thành lỗ dò có màu đen, từ đây các dịch rỉ có màu đen hoặc màu hồng chảy ra.
Do sưng hầu vùng họng nên gia súc bệnh không ăn được, lưới sưng to, thè lè ra khỏi miệng, rất dễ nhận biết, toàn thân bị trương phếnh, xác gia súc chết mêm không cương cứng đây là đặc điểm bệnh lý của bệnh Than.
Khi thấy các triệu chứng nêu trên, người chăn nuôi dứt khoát không được tự tiện di chuyển xác chết đến nơi khác, không được mố gia súc chết vì bệnh rất dễ lây sang người. Điều mà người chân nuôi phải làm là báo ngay cho cán bộ thú y gần nhất để họ xử lý theo pháp lệnh thú y.
Nếu cán bộ thú y mỗ khám người ta sẽ thấy xác chết mêm, căng tròn, phù nề và xuất huyết dưới da, lách sưng rất to, thậm chí bị bục vỡ, máu đen không đồng, các hạch làm ba sưng rất to, màu lơ đỏ, giòn dễ nát, ruột luôn thấy nhiều ố viêm loét có màu đen, viêm xuất huyết tràn lan dưới màng bao các cơ quan nội tạng là nét đặc trưng luôn hiện hữu.
Câu 3. Khi phát hiện ra bệnh than thì phải làm gì để bệnh không phát tán ra diện rộng, điều trị bệnh than như thế nào?
Đáp:
Khi nghi ngờ gia súc có các biểu hiện của bệnh than thì người chân nuôi phải làm các việc sau:
Không di chuyển động vật ốm đi nơi khác.
Không giết thịt để ăn vì dễ bị chết do bệnh than.
Không mổ khám động vật ốm hoặc chết vì khi mổ ra, vi khuẩn than sẽ biến thành nha bào và có khả năng gây bệnh trong nhiều năm sau, do đó người chăn nuôi phải che chắn và rào đậu kín xung quanh động vật ốm hoặc chết, sau đó báo ngay cho cơ quan thú y gần nhất đến xem xét và xử lý theo quy định của Nhà nước.
Phải đào hố sâu 3m, chôn kỹ, rắc với hoặc tẩm xăng đốt xác, thậm chí phải xây mộ kiên cố. Toàn bộ đất nơi gia súc ốm chết do bệnh than cũng phải tẩm xăng đốt hoặc chôn sâu đắp kín…
Trong một số trường hợp, bệnh than xảy ra ở thể dưới cấp tỉnh, nên một số cán bộ chuyên môn hoặc người chăn nuôi dễ nhầm với bệnh tụ huyết trùng, vì thế họ tiến hành điều trị mà không biết đó là bệnh than, kết quả điều trị trong trường hợp này hầu như không được. Lý do thật đơn giản, vì bệnh tụ huyết trùng do một loại vi khuẩn gram âm, phải cần thuốc đặc trị gram âm, trong khi bệnh than do một loại vi khuẩn gram dương thì cần thuốc kháng sinh đặc trị gram dương.
Điều này có nghĩa là thuốc dùng điều trị tụ huyết trùng khác hoàn toàn với thuốc điều trị bệnh than. Trong thực tế, thuốc điều trị bệnh than có thể dùng để điều trị được bệnh tụ huyết trùng, nhưng không ngược lại.
Phương pháp điều trị được tiến hành 2 bước như sau:
a. Nếu có kháng huyết thanh thì dùng ngay kháng huyết thanh 1-2ml/1kg thể trọng (tiêm ven hoặc tiêm bắp)/1 lần cách 3 giờ tiêm 1 lần, tiêm 3-4 lần.
b. Tiêm bắp thuốc trợ tim Cardiotonin 5mg/kg thể trọng hoặc Cafein 1mg/kg thể trọng/1 lần/ngày. Tiêm 2-3 ngày liên tục.
c. Tiêm bắp kháng sinh đặc trị vi khuẩn gram dương liều cao.