CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỆNH GIA CẦM Ở VIỆT NAM
Chăn muôi gia cầm bao gồm: gà, vịt, ngan, ngông, chim bồ câu C là một nghi truyền thống của dân mất từ Các tài liệu khảo cổ học cho răng, nước ta nằm trong vùng Đông Nam A là một trong những trung tâm thiên hỏi gà rừng thành gà nhà và nuôi gà từ cách đây hơn 1.500 năm. Người nông dân nuôi gà rộng rãi khắp các vùng nông thôn rộng lớn từ vùng đông hàng đến trung của và miền núi vì nuốt gà chu kỳ ngân, quay vòng nhanh, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh sẽ gia đình và tự cung tự cấp thực phẩm ở địa phương
Vụ, ngạn được thuần hóa từ các trung tâm vùng Nam Á và châu Âu từ vịt trời và ngan nhà được thuần hóa từ ngân rừng từ cổ xưa, được du nhập vào nước ta khoảng 2.000 năm trước đây,
Do điều kiện chân muối và sinh thái khác nhau giữa các vảng sân xuất nông nghiệp, người nông dân Việt Nam cho đến nay đã thoản hóa, tạo ra được nhiều giống gia cầm khác nhau, như: gà Đông Tảo, muôi ở Đông Tảo – Hưng Yên có tâm vớc lớn con trông trường thành có thể nặng tới sâỵ và con mái trưởng thành có thể năng sửفي ريف H’Mông nuôi ở vùng núi tỉnh Hòa Bình, Hà Giang, Lào Cai, có thể nặng tốt 3 – 4kg.
Ngược lại, cũng có giống gà có tầm vóc nhỏ như gà The con trống trưởng thành chỉ năng 112kg và con mái trường thành chỉ nặng 07-13kg. Giống gà Rì được nuôi rộng rải khắp các vùng sinh thật ở nước ta có tầm vớc trung bình con trống trường thành chỉ nặng 18 – 20kg và cơn mái trường thành chỉ nặng từ 1 18kg nhưng lại đẻ nhiều trùng, một năm có thể đẻ 150 – 300 trứng, tỷ lệ trừng mà cao và gà mát tự nuôi con khén.
Cũng có một số giống gô được tạo ra để làm cảnh như gà chọi được nuôi ở khắp nơi nhưng với số lượng ít, thấy nhiều ở các tỉnh miền Trung và vùng Đồng bằng sông Hồng. Gà đem 20 Kết, toàn thân lông đen, chân đen, da xương đều đen được nuôi để làm thuốc chữa đau khớp và thuốc bổ, được nuôi nhiều ở các tỉnh miền nài
Ngày nay, do yêu cầu tăng năng suân thịt trưởng, nước ta đã nhập một số giống gà hường trũng như gà Leghorn trắng từ Cuba, nhiều giống gà hướng thịt có tầm vớc và năng suất cao cũng được nhập như gà Susch vẫn từ Hungary, på Rymuth trăng và Plymouth vẫn có tăm vớc lớn nặng 4 – skg được nhập từ Cuha và một số nước châu Âu, gà Rhode nàu được nhập từ Mỹ.
Nhiều giống thủy cầm có năng suất vàchất lượng cao đã nhập nuôi ở nước ta như vật Bắc Kinh trăng từ Trung Quốc, vịt Anh Đào từ Nhật Bản, Hungary… có tâm vớc trưng thành từ 3-5kg, ngan siêu thịt nhập từ Pháp có thể nặng 5-7kg cùng đã được nuôi thuần thích nghi với điều kiện ở nước ta.
Ngược lại với các giòng thủy câm nhập, vịt có được nuôi phổ biến Ở nước ta có tâm vớc nhỏ khi trưởng thành vũ đực chỉ nặng 18-1.g và vật cái trường thành chỉ đạt 1-13kg. Tuy nhiên, vịt cô lại có tỷ lệ đề cao, có thể để thu zao trùng năm. Một số giống vịt đặc sản ở địa phương như vịt Bầu Bến ở Hòa Bình, vịt Kỳ Lừa ở Lạng Sơn cũng có tâm vớc lớn (2,5 – 3,5kg khi trường thànhị nhưng tỷ lệ đẻ và số lượng trừng lại B.
Cùng với việc chân nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng nông dân cũng đã biết sử dụng các loại thuốc nam, chủ yếu là các loại thảo được và áp dụng các bài thuốc nam điều trị một số bệnh thường gặp ở gia cầm đồng thôi áp dụng một số biện pháp phòng bệnh dân gian bảo vệ đàn gia cầm từ xa xưa
Chúng tôi sẽ trình bày khái quát phần nghiên của bệnh gia cầm và biện pháp phòng trị bệnh cho gia cầm theo các giai đoạn phát triển lịch sử ngành nông nghiệp ở nước ta từ trước tới nay qua 3 thời kỳ sau
1. Thời kỳ phong kiến đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta (1883).
Từ xa xưa, người nông dân tuy chưa có kiến thức về bệnh gia cầm nhưng cũng đã có khái niệm về một số bệnh thường gặp làm cho gia câm tim và chết, rồi áp dụng các bài thuốc nam để điều trị bệnh cho gia cấm. Khi thấy gia cầm chết rất nhanh với biểu hiện mào thâm tim, có khi gà đáng để lăn ra giãy giụa, kêu quang quác rồi chết rất nhanh, người ta gọi là “Bệnh hoặc loạn gà do trúng phong” và lây là rau má, cà tôi già lấy nước cho gà uông khí thấy gà mới có biểu hiện bỏ ăn, thâm mào.
Cách điều trị này có thể chữa khỏi một số gà mời chớm phát bệnh nhưng tỷ lệ khôi còn thấp. Ngày nay, với các phương pháp chẩn đoàn hiện đại, chúng ta đã biết đây là bệnh tụ huyết trùng gia cầm và tôi là kháng sinh thực vật có thể có tác dụng với vi khuẩn tụ huyết trùng
Hiện tượng gà rủ, bỏ ăn, thở khó, la phân lông trắng kéo dài 4-5 ngày thì chời, người xưa gọi là “bệnh gà rủ” hoặc bệnh “gà toi” vì tỷ lẽ chết rất cao. Họ đã dùng nước là hẹ, nước gừng và nước là ôi cho uống nhưng ít khi khỏi được bệnh. Ngày nay, chúng ta đều biết đó là “bệnh gà và Nucatam”. Bệnh này có thể lây lan làm chết gã cà một thân một xã. Cô rất là gà khỏi bệnh, nếu có khỏi cũng có đi chứng thần kinh như ngoẹo đầu, ngoạn cũ, mở không trùng thức ăn, phải đút cho ăn.
Gà đẻ trứng non hoặc trong phân cô đình lòng đỏ trứng, ngà nông dân gọi là gì “đẻ non và trùng của những con gà này nở ra gà con ngay vài ngày đầu đã ủ rũ, là phần trăng, phần đính bết hậu môn. Để chưa bệnh này, chúng ta đã biết đây là bệnh tháng hàn và bạch lỵ gà và là sài đất và nước tôi là kháng sinh thực vật, tuy nhiên hiệu quả chữa bệnh còn thấp