1. Thuốc Bảo vệ thực vật là gì?
Thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV), còn gọi là thuốc trừ dịch hại cây trồng hoặc sản phẩm nông được là những chế phẩm dùng để phòng trừ các sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, các chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loại sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.
Tài nguyên thực vật được bảo vệ bao gồm các loại cây trồng và sản phẩm của cây (như quả, hạt, cũ), các nông lâm săn, thức ăn gia súc và nông sản khi bảo quản.
Những sinh vật gây hại tài nguyên thực vật (còn gọi là dịch hại) bao gồm các loài sâu và nhện hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các sinh vật gây hại khác.
Từ xưa đến nay trong sản xuất nông nghiệp, thuốc BVTV luôn là một vật tư kỹ thuật cần thiết để góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản. Hiện nay, sử dụng thuốc BVTV vẫn là một biện pháp quan trọng trong hệ thống các biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp (IPM),
2. Thuốc BVTV bao gồm những loại nào?
Từ xa xưa khi nghề trồng trọt bát đầu phát triển, con người đã biết dùng các chất độc để phòng trừ các loại sinh vật hại cây. Tuy vậy, do điều kiện sinh thái và quy luật cân bằng tự nhiên, lúc đầu các loài sinh vật gây hại còn ít và chưa quen với chất độc, trình độ kỹ thuật còn thấp, con người chủ yếu dùng các chất có sẵn trong tự nhiên, nhất là các cây có chất độc, được chế biến thô sơ và sử dụng một cách đơn giản.
Sau đó, do sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, dịch hại ngày càng nhiều, trình độ kỹ thuật của con người cũng ngày càng nâng cao, thuốc BVTV cũng được phát minh và sử dụng ngày càng nhiều, nhất là từ giữa thế kỉ XX đến nay. Hiện nay trên thế giới đã biết tới có hàng vạn chất có khả năng tiêu diệt các loài sinh vật hại cây bằng nhiều cách. Riêng ở nước ta, theo danh mục thuốc BVTV ban hành đầu năm 2005, đã có gần 500 chất được đăng ký thành 1500 tên thuốc BVTV sử dụng trên thị trường (gọi là tên thương mại).
Căn cứ vào đối tượng phòng trừ, các thuốc BVTV chia thành các loại chủ yếu sau:
a. Thuốc trừ sâu: Là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng và nhận gây hại cây trồng và nông sản. Phần lớn các loại thuốc trừ sâu đều rất độc với người, động vật và môi trường. Do đó, thuốc trừ sâu nói chung ngày càng được sử dụng ít dần.
b. Thuốc trừ bệnh: Là những thuốc dùng phòng trừ các loại vi sinh vật gây bệnh cho cây như nấm, vi khuẩn, tuyến trùng. Một số vì sinh vật quan trọng khác thường gây bệnh cho cây như virus, mycoplasma tới nay chưa có thuốc trừ đặc hiệu. Các thuốc trừ bệnh nói chung ít độc hơn so với thuốc trừ sâu và ngày càng được sửdụng nhiều.
c. Thuốc trừ cỏ: Là những thuốc phòng trừ các loài cỏ dại hại cây trồng. Thuốc trừ cỏ cũng ít độc hơn so với thuốc trừ sâu nhưng lại dễ gây hại cây trồng. Thuốc trừ cỏ cũng có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều.
d. Thuốc trừ chuột: Là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loài gặm nhấm khác. Các thuốc trừ chuột cũng rất độc với người và gia súc.
e. Thuốc trừ ốc: Là những thuốc dùng phòng trừ các loại ốc hại cây như ốc sên, ốc bươu vàng. Các thuốc trừ ốc nói chung rất độc với các loài tôm cá.
g. Thuốc điều tiết sinh trường cây trồng: Còn gọi là thuốc kích thích sinh trường. Là những thuốc có khả năng kích thích hoặc ức chế sự sinh trường phát triển của cây.
Ngoài ra có những chất được dùng hòa chung với dung dịch thuốc giúp thuốc loang trải và bám dính tốt trên cây để tăng hiệu quả cũng được xếp vào thuốc BVTV.
Cũng theo danh mục thuốc BVTV ban hành đầu năm 2005, ở nước ta hiện nay thuốc trừ sâu có 177 hoạt chất với 555 tên thương mại, thuốc trừ bệnh có 145 hoạt chất với 419 tên thương mại, thuốc trừ cỏ có 104 hoạt chất với 311 tên thương mại, thuốc trừ chuột có 13 hoạt chất với 20 tên thương mại, thuốc trừ ốc có 3 hoạt chất với 17 tên thương mại, thuốc điều hòa sinh trường cây trồng có 25 hoạt chất với 54 tên thương mại, thuốc loang trải có 4 hoạt chất với 4 tên thương mại, chất dẫn dụ côn trùng có 3 hoạt chất với 4 tên thương mại,
3. Trong thuốc trừ sâu hiện nay có những nhóm nào?
Dựa vào cấu tạo hóa học và cách tác động, các thuốc trừ sâu hiện được chia thành các nhóm chỉnh như sau:
a. Nhóm Clo hữu cơ: Trong thành phần hóa học có chất Clo (CI). Nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng chậm phân hủy, tổn tại lâu trong cơ thể người, động vật và môi trường, thường gây độc màn tỉnh nên nhiều sản phẩm đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng. Điển hình cho nhóm này là các chất DDT (Diclodiphenyl tricloroethan), BHC (Benzen hexa cloro), Aldrin.
b. Nhóm Lân hữu cơ: Trong thành phần hóa học có chất Lân (P). Độ độc cấp tính tương đối cao nhưng mau phân hủy hơn so với nhóm Clo. Thuộc nhóm Lân hữu cơ hiện nay có rất nhiều chất đang sử dụng như các chất Acephate, Diazinon (Baaudin), Dimethoate (Bi-58), Malathion (Malate), Phosalone (Pyxolone). Một số chất có độ độc cấp tỉnh cao cũng đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng như các chất Monocrotophos (Azodrin), Parathion (Wofatox), Methamidophos (Monitor).
d. Nhóm Cúc tổng hợp: Còn gọi là nhóm Pyrethroide. Là nhóm thuốc trừ sâu tổng hợp dựa vào cấu tạo chất Pyrethrin có trong hoa của cây Cúc sát trùng (Pyrethrum). Các chất này để bay hơi và tương đối mau phân hủy, một số chất dùng trong gia đình để trừ muỗi, ruồi, gián. Điển hình của nhóm Các tổng hợp là các chất Cypermethrin (Sherpa), Fenvalerate (Sumicidin), Lambdacyhalo-thrin (Carate)
2. Nhóm điều hòa sinh trường côn trùng: Là những chất làm rối loạn quá trình sinh trường phát triển của côn trùng, dẫn đến bị chết. Các chất này thường chỉ diệt một số nhóm côn trùng nhất định, ít hại các loài thiên địch. Phổ biến hiện nay có các chát Buprofezin (Applaud), Chlorfluazuron (Atabron)….