Tài Liệu Số Bác Sĩ Cây Trồng Tập 23 – Trồng – Chăm sóc & Phòng Trừ Sâu Bệnh Cây Cao Su Lưu VIP

Tài Liệu Số Bác Sĩ Cây Trồng Tập 23 – Trồng – Chăm sóc & Phòng Trừ Sâu Bệnh Cây Cao Su

Danh mục: , Người đăng: Ly Võ Thị Nhà xuất bản: Tác giả: , Ngôn ngữ: Tiếng Việt Định dạng: Lượt xem: 37 lượt Lượt tải: 0 lượt

Nội dung

CÂY CAO SU (Hevea brasiliensis)

Cây cao su có nguồn gốc từ vùng rừng Amazone ở Nam Mỹ, là này của vùng nhiệt đới sách đạn. Hiện nay trên thế giới cây cao và trồng chủ yếu quanh vùng kích đạn, từ vĩ tuyến 16° Nam đến 18 Bắc, bao gồm nhiều nước châu  châu Phi, và châu Mỹ. Năm 1990, diện tích trống tao su toàn thế giới khoảng 8,2 triệu ha, với sản hượng trên 5 triệu tấn mủ.

Các nước trồng nhiều là Indоеsія 12,3 triệu hai, Thái Lan (1,8 triệu hat, Malaysia 11,7 triệu ha). Ấn Độ 1450 ngân fiat, Trung Quốc (400 ngàn hải, Philippines (200ngan ha), Việt Nam (200 ngàn ha). Sản lượng các su những nước này chiếm tới 85% sản lượng cá thế giới

Mù cao su chủ yếu dùng chế tạo sâm láp xe hơi (trên 60%), ngoài ra còn sử dụng cho nhiều sản phẩm công nghiệp (vỏ bọc dây điện, chống mài mòn), các dụng cụ y tế, đời sống (dụng cụ giai phẩu, dày dép, nêm gói, hồ dân). Cây cao su giả hết thời gian khai thác mũ thì lấy gỗ.

Gỗ cao su được ngâm tâm chống nấm mốc, mối mọt cũng là loại gà đẹp và tốt, ngày càng được sử dụng nhiều để làm ván ép, bàn ghế, giường, tủ Hạt cao su dùng ép lấy đâu để pha chế sơn, làm xà phòng, keo dán. Khô dầu làm thức ăn gia súc và phân bón. Cây cao su cũng còn được trống để tạo ring che phủ đất trống, đồi trọc, chống xói mòn và giữ màu mỡ cho đất.

Cây cao su được coi là một nguồn nguyên liệu công nghiệp quan trọng, có tính chất chiến lược mà mọi nước trên thế giới đều cần

Trung bình sau khi trồng 5-7 năm thì bất đầu khai thác mủ. Mỗi hecta trong 400 500 cây. mỗi năm cho 1-2 tấn mủ khô và có thể khai thác liên tục 20-30 năm, sau đó có thể cho 100 150 mì gói trên.

Mù cao su là một dung dịch keo chứa 30-45% cao su thiên nhiên khô. Cao su thiên nhiên là một chất cao phân tử polymer, có công thức hóa học là (CH trong đó CB la isoprene, một carbua hydro không no có nội đôi nên kết hợp được với nhiều chất khác, nhất là làm huỳnh (sulfua), để có những đặc tính cơ lý hóa cần thiết trong việc chế tạo các sản phẩm bằng CAO SU

Cây cao su được du nhập và trồng ở Việt Nam từ năm 1897 do bác si Yersin trông tại Nha Trang. Đến năm 1920, người Pháp đã trồng được 7.000 ha ở ngoại ở Sài Gòn. Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Năm 1975, điện tích cao su ở các tỉnh phía Nam khoảng 60.000 ha.

Sau ngày thông nhất đất nước, nhà nước ta rất coi trọng phát triển cây cao su, trồng cao su trở thành một trong những ngành mũi nhọn của nến kinh tế quốc dân. Năm 1990 diện tích trống cao su cả nước khoảng 220.000 ha, với sản lượng 58.000 tấn. Đến năm 2000 diện tích trống lên trên 400.000 ha với sản lương gần 300.000 tấn mù, trong đó xuất khẩu tới 280.000 tấn.

Vùng trống cao su chủ yếu là miên Đông Nam bộ (các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương. Tay Ninh, Bình Phước, chiếm tới gần 80% diện tích cao su cánước. Sau đó là vùng Tây Nguyên (Đắc Lắc, Pleiku, Kontum), một số ít ở vùng Vịnh Linh (Quảng Trị). Nghệ An

Ở nước ta, cao su hầu hết trồng tập trung ở các nông trường của các công ty, diện tích trống mỗi cơ sở từ vài trăm đến hàng ngàn ha, gọi là đại điền. Cao su trồng trên diện tích nhỏ của tư nhân, gọi là tiểu điền, với diện tích mỗi cơ sở từ vài ha với vài chục ha. Các đại điên có thế mạnh là có điều kiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tốt, cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ, năng suất cao,

Tuy vậy có khó khôn là phải đầu tư nhiều, số lượng công nhân lớn, đòi hỏi trình độ quản lý cao. Còn tiếu điển thì đầu tư cơ sở kỹ thuật không tốn kém nhiều nhưng điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật bị hạn chế, năng suất và chất lượng kém.

Những năm gần đây, do khả năng vốn liếng và phương tiện, vật tư kỹ thuật đấy dù hơn nên diện tích can su tiểu điền ngày một tăng, đóng vai trò ngày càng rõ rệt trong sự phát triển nghề trồng cao su ở nước ta. Để tạo điều kiện cho sản xuất cao su của các tiểu điền đạt kết quả tốt hơn cần liên kết các tiêu điển thành một khỏi kết hợp với đại điển, lấy đại diễn làm hạt nhân trong việc phổ biến kỹ thuật và tạo nguồn tiêu thụ cho cá khôi . ĐẶC TÍNH

1. Đặc tính thực vật học

Thân: Thân cao su có hình trụ tròn và thẳng đứng, độ phản cành cao từ 23 m. Cây cao trung bình 20 30 m, cây mọc hoang có thể cao tới 50 m

Vô thân gồm 3 lớp. Ngoài cùng là lợp bồn, màu nâu đậm, gồm các tế bào chết, có chức năng báo về các lớp bên trong. Tiếp theo là lớp da đó, là lớp vỏ cứng, chứa ít mạch mủ. Lớp trong cùng của và là lớp da lạn, có nhiều mạch mù và là lớp chủ yếu cung cáp mù

Mạch mà là những ông nhỏ, chạy dọc thân và cành từ gốc đến ngọn, năm sát phía ngoài lớp tượng táng. Các mạch mù gắn tượng táng cho nhiều mũ nhất, tạo thành lớp đây 2-3 mm. Cán chú ý là mạch mù không năm tháng đứng theo thân cây mà năm nghiêng từ phải sang trái thành một góc khoảng 5 so với đường thẳng đứng, khi cạo mủ cần dựa vào đặc điểm này để tạo đường cạn. Trong sản xuất chi khai thác ma khì cây được 5-7 năm tuổi. Năng suất mù tông dân đến 20-25 năm tuổi, sau đó giảm dần, đến khoảng 30-35 năm thì phá đi trồng lai.

– Rễ: Độ rễ cao su gắm một vẻ trụ và hộ thống các rẻ ngang. Hồ trụ dài từ 3-5 m giúp cây đứng vững trong đất. Các rẽ ngang mục chi chít quanh rẻ trụ tạn thành một mạng lưới, có chức năng chính là hút nước và chất khoáng nuôi cây Các về ngưng có khuynh hưởng tiến lên phía mặt đất Tân là rộng đến đâu thì rẽ ngang mọc ra tới đó, có thể rộng tới 6-10 m

– Lá: Ngoài chức năng quang hợp, trong là cây cao su có chứa nhiều mạch mù nên còn gặp phần tổng hợp nên mù còn cây. Là can su là là kép, mạc cách, mỗi là gồm 3 là chết. Ở cuống là có tuyến mặt hấp dẫn các loài ông bay tới hút mặt. Là non màu nâu tím, mềm rũ xuống.

Tải tài liệu

1.

Tài Liệu Số Bác Sĩ Cây Trồng Tập 23 – Trồng – Chăm sóc & Phòng Trừ Sâu Bệnh Cây Cao Su

.pdf
2.47 MB

Có thể bạn quan tâm